Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016

Xuyên khung, bạch chỉ có phải thuốc bổ?

Hiện nay, nhiều món ăn bài thuốc như cháo, canh dưỡng sinh có dùng hai vị thuốc xuyên khung và bạch chỉ với mục đích bồi bổ sức khỏe và trí não, an thần, nhất là trong những ngày hè cho những "sĩ tử"; hoặc một số bài thuốc dùng hai vị này để trị chứng cảm nóng, cảm nắng.
Hiện nay, nhiều món ăn bài thuốc như cháo, canh dưỡng sinh có dùng hai vị thuốc xuyên khung và bạch chỉ với mục đích bồi bổ sức khỏe và trí não, an thần, nhất là trong những ngày hè cho những "sĩ tử"; hoặc một số bài thuốc dùng hai vị này để trị chứng cảm nóng, cảm nắng. Nhưng tác dụng, cách dùng và liều dùng của hai vị này như thế nào thì không phải ai cũng rõ.
Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii), bạch chỉ (Radix Angelicae dahuricae) là hai vị thuốc có nguồn gốc từ Trung Quốc, đã được di thực vào nước ta từ thế kỷ trước. Xuyên khung vị cay, tính ôn, có công năng hành khí, hoạt huyết, trừ phong, giảm đau; dùng trị kinh nguyệt bế tắc, nhức đầu hoa mắt, cảm mạo phong hàn (cảm lạnh), sốt cao, rét nhiều, mồ hôi không ra được, hoặc phong thấp, nhức mỏi cơ thể, ngực bụng đau tức, nhọt độc sưng đau. Ngoài ra, thành phần tinh dầu của xuyên khung còn có tác dụng an thần, hưng phấn trung khu hô hấp... Những người có chứng âm hư hỏa vượng không nên dùng.
Xuyên khung, bạch chỉ có phải thuốc bổ? 1
 Bạch chỉ là vị thuốc hoạt huyết khu phong, trị cảm mạo phong hàn, các chứng đau nhức, không phải là thuốc bổ.
Bạch chỉ cũng có vị cay, tính ôn. Với công năng giải biểu hàn, khu phong, thắng thấp, hoạt huyết, trừ mủ (làm tống mủ ra), sinh cơ, giảm đau; dùng trị cảm mạo phong hàn, sốt cao, rét nhiều, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi, viêm xoang, đau răng, mụn nhọt sưng tấy, vết thương có mủ... Gần đây người ta đã phát hiện bạch chỉ còn làm giãn động mạch vành tim nên có tác dụng hoạt huyết, giảm đau, nhuận cơ và hoãn giải được chứng đau thắt ngực. Nước sắc bạch chỉ còn ức chế trực khuẩn đại tràng, lỵ, thương hàn, mủ xanh, lao... Những người có chứng hư, uất hỏa, mắc bệnh sốt xuất huyết cũng không dùng được bạch chỉ.
Như vậy, kể cả mặt lý luận cũng như trên thực tế lâm sàng, hai vị xuyên khung, bạch chỉ YHCT chỉ dùng để điều trị chứng cảm mạo phong hàn (cảm lạnh) với liều xuyên khung 4g, bạch chỉ 8g, dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc (không nên dùng lửa to với thời gian sắc kéo dài), sẽ làm mất đi các hoạt chất của chúng. Do đó nếu dùng cho “cảm nắng, cảm nóng”, thì nguy cơ làm cho nguyên nhân của bệnh cảm nắng, cảm nóng sẽ lấn sâu vào bên trong cơ thể khiến cho bệnh nặng thêm. Vì theo YHCT, “nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng”. Mặt khác, với mong muốn nâng cao sức khỏe, đặc biệt cho các “sĩ tử” khi thi cử, đã có những sản phẩm dưới dạng dược thiện, canh dưỡng sinh, cháo thuốc bổ dưỡng được sử dụng các vị thuốc Đông y nấu, hầm, chưng... với thịt, cá... Ví dụ: Canh cá mè, xuyên khung: đầu cá mè 1 cái, xuyên khung 60g, bạch chỉ 60g. Các vị rửa sạch, bổ đôi đầu cá mè, cho tất cả vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu thành canh cho chín nhừ. Ăn cá uống canh. Công dụng: bổ não tủy, chữa đau đầu, hoa mắt chóng mặt”. Trong món ăn thuốc trên, xuyên khung và bạch chỉ là 2 vị thuốc có vị cay, tính ấm, lại sử dụng với liều lượng rất cao, tới 60g cho mỗi vị. Trong khi đó, theo quy định của Dược điển Việt Nam IV, liều dùng của xuyên khung chỉ  từ 3 - 9g, còn bạch chỉ từ 6 - 12g. Hai vị thuốc này cũng không thuộc loại thuốc bổ nào của YHCT kể cả “bổ não tủy”.
Nâng cao sức khỏe hay hỗ trợ điều trị bệnh bằng các món ăn - bài thuốc từ lâu đã được ông cha ta áp dụng và hiệu quả của nó đã được chứng minh trên thực tế, tuy nhiên cần lưu ý đến liều lượng cũng như cách sử dụng để tránh những tác hại không mong muốn.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

7 điều cần lưu ý khi mua kính áp tròng

Hiện nay có nhiều người đeo kính áp tròng, chủ yếu là giới trẻ. Tuy nhiên, việc lựa chọn loại kính áp tròng phù hợp thường không đơn giản. Dưới đây là những điều bạn cần lưu ý khi lựa chọn kính áp tròng.
1. Không phải tất cả các loại kính áp tròng đều thích hợp với bạn
Tất cả các dấu vân tay đều không giống nhau và giác mạc của mỗi người cũng vậy. Mỗi cặp mắt đều có nhu cầu, hình dạng và đặc điểm khác nhau. Vì vậy, một số người đeo kính áp tròng phù hợp với họ nhưng lại không phù hợp với bạn. Vì vậy cần cân nhắc kỹ trước khi mua.
2. Không dùng chung kính áp tròng
Không nên dùng chung kính áp tròng với bất cứ ai vì vấn đề vệ sinh. Nếu bạn đang sử dụng kính áp tròng của người khác, nhớ là mắt của họ có thể bị dị ứng hoặc có vi khuẩn và chúng sẽ dễ dàng lây sang mắt bạn hoặc ngược lại.
3. Không nên mua kính áp tròng trực tuyến
Phần lớn các bạn trẻ và thậm chí là người lớn cũng thích mua kính áp tròng trực tuyến. Nhưng nhớ rằng, khi bạn làm như vậy, bạn có thể bỏ qua bước kiểm tra mắt thường xuyên và không phát hiện được những thay đổi ở mắt.
4. Đau mắt đỏ
Bạn không bị đau mắt đỏ chỉ vì đeo kính áp tròng nhưng nếu bạn không tuân theo phác đồ chăm sóc đúng thì có thể xuất hiện tình trạng đỏ mắt. Nếu bạn đeo kính dùng 1 lần đi ngủ hoặc rửa mắt kính với nước thay vì dung dịch rửa kính, mắt đỏ có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng trong mắt.

7-dieu-can-luu-y-khi-mua-kinh-ap-trong

5. Tin tưởng vào bác sĩ
Tránh mua kính áp tròng không kê đơn không theo tư vấn của bác sĩ vì bạn có thể dùng sai cách. Kiểm tra kỹ trước khi mua kính là cần thiết. Bạn cần tới bác sĩ để đo giác mạc, kiểm tra độ khô của mắt, kiểm tra chi tiết là cần thiết trước khi mua kính áp tròng.
6. Mua kính áp tròng sau khi được tư vấn
Bạn không phải tìm mua các loại kính thương hiệu nhưng cần lựa chọn loại thích hợp với bạn. Những người dùng kính hình trụ thường bị tổn thương vì lựa chọn của mình hơn vì loại kính này gây hại hơn so với kính hình cầu. Nó gây ra một số vấn đề như đau đầu, mệt mỏi, mẩn đỏ.
7. Tuân theo hướng dẫn sử dụng kính
Bắt buộc phải tuân theo quy tắc vệ sinh cơ bản khi sử dụng kính áp tròng. Những điều đơn giản như rửa tay, làm khô tay trước khi chạm vào kính và dành 2-3 phút để làm sạch chúng có thể giúp giữ cho mắt và kính của bạn an toàn.
BS. Tuyết Mai/Univadis
(theo THS)

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Phát hiện chất giúp ngăn ngừa lão hóa

Các nhà khoa học phát hiện một chất chống lão hóa đó là lithium, chất này thường được dùng để điều trị và ngăn ngừa cơn hưng cảm ở những người bị rối loạn lưỡng cực
Một nghiên cứu của Viện Sức Khỏe Cao Niên, trường đại học London (UCL), Vương quốc Anh đã tiến hành thử các liều khác nhau của lithium chloride (LiCl) trên 160  ruồi giấm trưởng thành. Kết quả cho thấy loài ruồi giấm sử dụng liều thấp lithium sống lâu hơn nhóm đối chứng.
Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng  các cá thể ruồi giấm sử dụng liều thấp lithium ở tuổi trưởng thành hoặc muộn hơn, chúng sống lâu hơn trung bình 16-18% so với các cá thể được cho dùng natri clorua, bất kể đặc tính di truyền của chúng.
Một điều đáng mừng nữa là các nhà khoa học kông có tác dụng phụ nào được phát hiện với liều thấp của lithium, điều đáng chú ý là những con ruồi trong nghiên cứu vẫn ăn bình thường và  sản sinh con cháu khỏe mạnh.
Trong khi xác định làm thế nào lithium làm tăng tuổi thọ của ruồi giấm, nhóm nghiên cứu thấy rằng thuốc đã ức chế một phân tử tên là glycogen synthase kinase-3 (GSK-3). Nghiên cứu trước đây chỉ ra mối liên hệ giữa GSK-3 và sự phát triển của các bệnh liên quan đến tuổi già, chẳng hạn như bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson.
Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, song song với việc ức chế GSK-3, lithium thúc đẩy hoạt động của một phân tử gọi là yếu tố nhân (NRF2),  tham gia trong việc bảo vệ tế bào chống lại oxy hóa – một quá trình quan trọng trong quá trình lão hóa.
Dựa trên những phát hiện của mình, các nhà nghiên cứu cho rằng việc tác động lên GSK-3 có thể là một bước đi đầy hứa hẹn trong cuộc chiến chống lão hóa.
Nghiên cứu này có tiềm năng không chỉ giúp tạo ra một thế hệ người cao tuổi khỏe mạnh, mà còn cung cấp những hiểu biết quan trọng về khả năng điều trị hoặc thậm chí ngăn ngừa bệnh lão hóa như Parkinson.

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

Ăn nhiều chất béo về đêm dễ bị viêm mạn tính

Các nhà nghiên cứu từ Đại học Texas A & M cho rằng việc tiêu thụ chất béo bão hòa vào ban đêm có thể tàn phá nhịp sinh học của cơ thể.
Các tế bào trong cơ thể hoạt động theo đồng hồ sinh học riêng, chúng sẽ điều chỉnh thời gian hoạt động của các tế bào, giúp tế bào hoạt động nhịp nhàng từ đó kiểm soát các phản ứng viêm xuất hiện trong cơ thể.
Theo TS. David Earnest, chất béo bão hòa ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể. Việc tiêu thụ quá nhiều chất béo sẽ làm cho đồng hồ sinh học của tế bào miễn dịch bị chậm lại, làm giảm khả năng kiểm soát phản ứng viêm trong cơ thể. Một chế độ ăn giàu chất béo có thể dẫn đến viêm mạn tính và nguy cơ cao của nhiều bệnh như béo phì, tiểu đường týp 2, bệnh tim mạch, đột quỵ và bệnh viêm khớp dạng thấp.
Theo các nhà khoa học, khả năng viêm nhiễm mãn tính phụ thuộc vào chất béo bão hòa mà cơ thể chúng ta ăn. Ngoài ra, thời điểm ăn cũng góp phần vào việc hấp thu chúng. Theo đó, thời gian tốt nhất để ăn một bữa ăn nhiều chất béo là vào buổi sáng sớm và ngược lại, ăn chúng vào ban đêm có thể gây ra những tác hại không mong muốn cho cơ thể.
B. Lăng

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

Cách xử trí và phòng ngừa ngộ độc nấm

Theo quan niệm của nhiều người, nấm là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, chế biến được nhiều món ăn ngon, lạ, hấp dẫn, do vậy nhu cầu sử dụng nấm không ngừng tăng cao. Mùa xuân với thời tiết ấm, ẩm rất thuận lợi cho các loại nấm phát triển và đây cũng là thời điểm thường xảy ra các vụ ngộ độc nấm. Để phòng chống ngộ độc do nấm độc, Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế khuyến cáo người dân cách xử trí và dự phòng ngộ độc nấm như sau:
Xử trí đúng
-  Ngay khi có triệu chứng ngộ độc nấm phải gây nôn, rồi chuyển đi cấp cứu ở trung tâm y tế gần nhất để chữa trị kịp thời: Rửa dạ dày, cho uống than hoạt tính sớm.
- Đưa cả những người cùng ăn nấm dù chưa có biểu hiện triệu chứng đến cơ sở y tế.
-  Mang mẫu nấm còn lại hoặc thức ăn chế biến từ nấm còn lại mang tới cơ sở y tế để sơ bộ xác định loài nấm.
Loại nấm độc (có phình gốc)
Dự phòng ngộ độc nấm
- Xác định thời gian từ lúc ăn nấm đến lúc có triệu chứng ngộ độc nấm: Nếu dưới 6 tiếng: điều trị ở xã, huyện; nếu hơn 6 tiếng gửi bệnh nhân lên bệnh viện tỉnh nơi có điều kiện lọc máu.
- Chỉ sử dụng khi biết chắc chắn nấm ăn được
- Tuyệt đối không được ăn nấm lạ, nấm hoang dại kể cả nấm mầu trắng, nấm có đủ các phần của thể quả...
- Không ăn thử nấm, dứt khoát loại bỏ nấm khi còn   nghi ngờ
- Không hái nấm non chưa xòe mũ vì chưa bộc lộ hết đặc điểm cấu tạo khó nhận dạng nấm độc.
- Nấm tươi ăn được mới hái nên nấu ăn ngay, nếu để ôi, dập nát có thể hình thành độc tố mới gây ngộ độc.
- Không ăn nấm đã bị thối rữa, ôi thiu.


Loại nấm không độc (không có phình gốc)




Chẩn đoán xác định ngộ độc nấm chủ yếu dựa vào bệnh nhân có ăn nấm; có triệu chứng ngộ độc: nôn, đau bụng, tiêu chảy hoặc các triệu chứng ngộ độc nấm đặc hiệu khác.
Các loài nấm thuộc nhóm có các độc tố khác nhau nhưng đều gây ra các triệu chứng buồn nôn và nôn, đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi...Triệu chứng đầu tiên xuất hiện từ 30 phút đến 3 giờ sau khi ăn nấm (trừ loài nấm vàng, triệu trứng xuất hiện muộn từ 5 đến 10 giờ) và các triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường kéo dài 2 - 3 ngày (tuỳ theo loài nấm và số lượng nấm đã ăn). Những trường hợp bị ngộ độc nặng có thể xuất hiện những dấu hiệu mất nước và chất điện giải dẫn đến tử vong do trụy tim mạch. Vì vậy, khi có biểu hiện nghi ngờ cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu và điều trị kịp thời.

Nguyễn Hà

Món ăn, bài thuốc chữa bệnh từ chim cút

Không chỉ là thực phẩm thơm ngon, có giá trị dinh dưỡng cao, chim cút còn là vị thuốc tốt trong y học cổ truyền, có tác dụng bồi dưỡng sức khoẻ cho người bị bệnh lâu ngày khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém, suy dinh dưỡng, phụ nữ sau khi sinh người yếu mệt… Xin giới thiệu một số món ăn để bạn đọc tham khảo:
Bài 1: Chim cút 1 con (làm sạch, bỏ ruột), đảng sâm 15g, hoài sơn 30g, cho các vị thuốc vào bụng chim, hầm nhừ, ăn ngày 1 lần, cần ăn vài ngày liền. Tác dụng: bổ trung ích khí,  thích hợp cho các chứng tỳ, vị suy yếu, tiêu hóa kém, ăn không ngon.
Bài 2: Chim cút 2 con làm sạch, đậu đỏ 100g, gừng tươi 10g (gọt vỏ đập giập) tất cả hầm nhừ, thêm gia vị, ăn ngày 1 lần. Dùng tốt cho người bị tiêu chảy, kiết lỵ.
Bài 3: Chim cút 2 con, gạo tẻ 100g, đậu đỏ 50g, bầu dục lợn 100g (thái lát). Tất cả nấu cháo, thêm gia vị. Dùng cho các trường hợp ho lao, mệt mỏi, rối loạn tiêu hoá, ăn kém.
Cháo chim cút tốt cho người mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, ăn kém.
Bài 4: Trứng chim cút 3 quả, đảng sâm 15g, đương quy 12g, đại táo 10 quả. Tất cả hầm nhừ, ăn trong ngày. Dùng cho các trường hợp mới ốm dậy, sản phụ sau khi sinh con, suy nhược thần kinh.
Bài 5: Cháo trắng (gạo tẻ hoặc gạo nếp) 1 tô, trứng chim cút 1-2 quả. Dùng cho trẻ em suy dinh dưỡng, người thể trạng suy nhược. (Nên ăn vào buổi sáng hoặc buổi tối).
Bài 6: Chim cút 1 con, đậu ván trắng 150g, gừng tươi 3 lát. Chim cút làm sạch, ướp đường, rượu, thêm gia vị vừa miệng ninh nhừ cùng đậu ván trắng, gần được cho thêm gừng tươi. Ăn ngày 2 lần, 5 ngày 1 liệu trình. Tác dụng hỗ trợ điều trị viêm phế quản mạn tính.
Bài 7: Trứng chim cút 3 quả, ích mẫu 40g. Trứng luộc bóc vỏ đem ninh nhừ với ích mẫu. Ngày ăn 2 lần, 10 ngày một liệu trình. Tác dụng: điều hòa kinh nguyệt, tăng cường khí huyết.
Trứng chim cút.
Bài 8: Chim cút 2 con làm sạch, ướp gia vị cho vừa; đỗ trọng 15g, kỷ tử 30g,  hầm nhừ lấy nước thuốc hầm với chim cút cho nhừ, chia 2 lần ăn trong ngày. Cách ngày ăn 1 lần, 10 ngày một liệu trình. Tác dụng: hỗ trợ điều trị phong thấp, thoái hoá khớp, đau lưng, mỏi gối, mệt mỏi.
Chú ý: Không nên dùng chim cút khi đang bị cảm sốt, nhiều đờm.
ThS. Hoàng Khánh Toàn

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Món ăn thuốc từ hạt sen

Các bộ phận của cây sen như hạt sen, tâm sen, gương sen, tua nhị sen, lá sen, ngó sen…đều được dùng làm thuốc đặc biệt là hạt sen (còn gọi là liên nhục, liên tử).
Từ xưa, sen đã được tôn thờ như một loài hoa đẹp, thanh khiết gắn liền với thế giới  tâm linh của người Việt. Sen là loại cây vừa dùng làm cảnh, làm thực phẩm lại cho nhiều vị thuốc quý. Các bộ phận của cây sen như hạt sen, tâm sen, gương sen, tua nhị sen, lá sen, ngó sen… đều được dùng làm thuốc đặc biệt là hạt sen (còn gọi là liên nhục, liên tử).

Hạt sen
Hạt sen là phần màu trắng bên trong vỏ cứng của quả, bỏ chồi mầm bên trong, được gọi là liên tử - Semen Nelumbinis. Trong hạt sen có nhiều tinh bột, đường, chất đạm, chất béo, một số khoáng chất (canxi, photpho) các alcaloid. Hạt sen là thực phẩm cao cấp dùng cho người già yếu, trẻ em hoặc dùng làm các món ăn quý có chất lượng cao: mứt, chè sen; là phụ liệu cho nhiều món ăn dân tộc.
Theo Đông y, hạt sen có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh. Dùng làm thuốc bổ, chữa tỳ hư sinh tiết tả (tiêu chảy), di mộng tinh, băng lậu, đới hạ, mất ngủ, thần kinh suy nhược. Ngày dùng 10 - 30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Sau đây là một số món ăn bài thuốc chữa bệnh có dùng hạt sen.
Trị di tinh, hoạt tinh: mẫu lệ 12g, long cốt 12g, kim anh tử 12g, sa tật lê 12g, liên tu 12g, khiếm thực 12g, hạt sen 12g. Làm thành viên hoàn hoặc sắc uống.
Hoặc: hạt sen 20g, ba kích 20g, bổ cốt chỉ 20g, sơn thù 20g, long cốt 20g, phụ tử 20g, phúc bồn tử 20g. Tất cả nghiền chung thành bột mịn, dùng hồ nếp làm hoàn. Mỗi lần uống 12g vào lúc đói, chiêu với nước muối loãng.
Trị lỵ, cấm khẩu, ăn uống không trôi: hạt sen 16g, hoàng liên 6g, đảng sâm 12g. Sắc uống.
Trị chứng hư lao tâm phiền không ngủ được, tim đập hồi hộp, đầu váng, mắt hoa: toan táo nhân12g, hạt sen 12g, viễn chí 12g, phục thần 12g, hoàng kỳ 12g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, trần bì 6g. Sắc uống.
Bột gạo, hạt sen, củ mài, phục linh: hạt sen sao 30g, gạo tẻ sao vàng 30g, củ mài 30g, phục linh 15g. Tất cả tán thành bột mịn, khuấy trong nước sôi, thêm đường trắng thành dạng chè bột, sớm tối ăn 1 lần. Dùng cho các trường hợp tỳ hư tiêu chảy.
Chè bột trứng gà, hạt sen: hạt sen 30g, đường 30g, rượu 30ml, trứng gà 1 quả. Hạt sen nấu chín nhừ khuấy đều với đường, rượu và trứng trên chảo nóng cho nước sôi, ăn trước khi đi ngủ. Dùng trong trường hợp bị bệnh lâu ngày, người cao tuổi, sau đẻ cơ thể suy nhược.
Chè hạt sen, củ súng: hạt sen 30g, củ súng 30g, đường vừa đủ. Nấu chè cho ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng. Dùng cho các trường hợp di tinh, tảo tiết, đới hạ huyết trắng, kinh nguyệt quá nhiều, tiểu đêm nhiều.
Hạt sen hầm thịt lợn: hạt sen 30g, thịt lợn nạc 150g, thêm gia vị hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp doạ sảy thai, sảy thai liên tiếp, phụ nữ có thai đau lưng.
Cháo hạt sen: hạt sen 30g, gạo tẻ 150g nấu cháo, thêm đường hoặc muối. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, đại tiện lỏng dài ngày.
TS. Nguyễn Đức Quang