Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016

9 thảo dược có lợi cho tim

Theo Trung tâm Thống kê Y học Quốc gia Hoa Kỳ (NCHS), tại Mỹ hiện nay có trên 68 triệu người mắc một hoặc nhiều chứng bệnh liên quan đến tim mạch.
Theo Trung tâm Thống kê Y học Quốc gia Hoa Kỳ (NCHS), tại Mỹ hiện nay có trên 68 triệu người mắc một hoặc nhiều chứng bệnh liên quan đến tim mạch. Ngoài tân dược, một số dược thảo kiêm thực phẩm dưới đây rất có lợi cho bệnh tim bởi có chứa 2 hợp phần quan trọng là alkaloids và terpenoids tự nhiên.
1. Tỏi
Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện thấy, mỗi ngày ăn 1 nhánh tỏi có thể làm giảm cholesterol (mỡ máu) xấu và tăng cholesterol tốt. Chưa hết, tỏi còn có khả năng điều hòa huyết áp, cải thiện lưu thông máu, ức chế tập kết tiểu cầu gây cục đông máu, phát sinh đột quỵ. Nghiên cứu còn kết luận, chiết xuất tỏi thể hiện khả năng bảo vệ tim rất tuyệt vời, giảm thiểu các rối loạn chức năng tim và rối loạn ti lạp thể.
2. Ca cao
Ca cao trợ tim nhờ hợp phần tự nhiên là theobromin và epicatechin (flavonol hay chất chuyển hóa trung gian của thực vật), giúp tăng cường sức khỏe mạch máu. Theo một thử nghiệm ngẫu nhiên tại Thụy Sĩ cho thấy, chocolate giàu flavanol đã được chứng minh là có lợi cho tim mạch và chức năng tiểu cầu ở nhóm người suy tim sung huyết dài lẫn ngắn hạn thông qua cơ chế tăng cường hoạt hóa sinh học nitric oxide và giảm stress. Hiệu ứng này có được nhờ tiêu thụ ca cao hàng ngày trong thời gian dài 4 tuần.
3. Táo mèo
Chính xác là cây sơn trà (Hawthorn), có nơi còn gọi là cây chua chát, cây gan hay táo gai hoặc dâu dại. Bằng chứng cho thấy táo mèo có tác dụng làm giãn mạch máu, tăng cường sức khỏe tim và giảm huyết áp, cholesterol và cặn chất béo trong thành mạch máu. Lý do: táo mèo giàu hợp chất phytochemical có tính hoạt hóa cao, kể cả bioflavinoids, hợp phần có đặc tính chống oxy hóa cao, có tác dụng tiêu diệt các gốc tự do. Tương tự, táo mèo còn giúp cơ thể phân phối và sử dụng vitamin C hiệu quả hơn, giúp củng cố mao mạch.
4. Ích mẫu
Ích mẫu là loại thảo mộc truyền thống được sử dụng để làm giảm nhịp tim do căng thẳng thần kinh, nhưng sử dụng lâu dài còn có tác dụng làm giảm sự hình thành cục máu đông, các loại mỡ máu xấu như  cholesterol, triglyceride và tăng cường cơ tim. Các hợp chất như phenylpropanoids, flavonoids và các axit phenolic cũng như các loại dầu dễ bay hơi, sterol và tannin, có trong ích mẫu rất hữu ích cho sức khỏe tim mạch mà không để lại các phản ứng phụ. Nghiên cứu dược lý cũng khẳng định, ích mẫu còn có hoạt tính kháng khuẩn, chống ôxy hóa, kháng viêm, giảm đau cũng như tác dụng an thần và chống tụt huyết áp.
Việt quất (trái) và bạch quả giúp tăng cường sức khỏe tim mạch.
5. Việt quất
Việt quất (Bilberry) là loại quả có tác dụng cải thiện sức khỏe vi mô, tăng cường sức khỏe thành mạch máu và kích thích sự hình thành các mao mạch mới. Theo nghiên cứu thực hiện gần đây cho thấy, chiết xuất từ cây việt quất còn có tác dụng kháng độc cho tim do có chứa chống ôxy hóa cao. Vì vậy việt quất thường được dùng cho bệnh nhân có vấn đề bệnh lý về tuần hoàn, rối loạn mạch máu như vữa xơ mạch máu, khuynh hướng dễ bị bầm tím, trĩ, căng giãn tĩnh mạch. Ngoài ra, nó còn có tác dụng cải thiện sự tưới máu, làm giảm những triệu chứng đi kèm như cung cấp đầy đủ ôxy cho máu, giảm phù nề, giảm cảm giác nặng nề, đau, loạn dưỡng da và giảm viêm.
6. Nhân sâm
Theo y học cổ truyền, nhân sâm thường được sử dụng để điều trị các rối loạn khác nhau, còn theo nghiên cứu hiện đại thì giá trị lâm sàng của thảo dược này lại rất tốt trong việc điều trị bệnh tim. Tuy phải có thêm nhiều nghiên cứu cần thiết để khẳng định tác dụng của nhân sâm nhưng đến nay, khoa học đều thừa nhận nhân sâm có tác dụng tốt trong việc bảo vệ tim, đặc biệt là trong cuộc chiến chống bệnh động mạch vành, phì đại tim, suy tim, chuyển hóa năng lượng tim, co bóp của tim và rối loạn nhịp. Ngoài ra, nhân sâm còn có tác dụng kháng u, kháng viêm, kháng dị ứng, chống oxy hóa, giảm đái tháo đường và chống tăng huyết áp.
7. Bạch quả
Chiết xuất từ lá của cây bạch quả (Ginkgo Biloba) đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là giúp giãn nở và tăng lưu lượng máu qua động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Chưa hết, nó còn có tác dụng ức chế việc tập kết tiểu cầu, gây đông máu và bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ tấn công của các gốc tự do.
8. Tóc tiên
Tóc tiên hay đậu môn (Butcher’s Broom) là thảo dược được sử dụng trong nhiều thập kỷ, có tác dụng thúc đẩy sức khỏe tĩnh mạch. Thành phần chính của tóc tiên gồm  ruscogenins và flavonoids, 2 chất phytochemical rất hữu ích. Ngoài ra còn cholesterol và axit béo, có tác dụng cải thiện sức khỏe mạch máu cũng như giảm nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, không giống như nhiều loại thảo dược tốt cho tim, tóc tiên chỉ nên dùng cho người được chẩn đoán mắc bệnh huyết áp thấp hoặc tụt huyết áp. Nó giúp làm tăng huyết áp tâm trương, nếu bị tăng huyết áp nên tránh dùng.
9. Nho
Nho là thực phẩm quen thuộc, nếu tiêu thụ thường xuyên sẽ có lợi cho tim. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, nho rất giàu flavonoid giúp chống lại bệnh cao huyết áp và giảm nguy cơ bệnh tim mạch và tổn thương cơ tim. Gần đây, các chuyên gia ở ĐH Y Michigan (Mỹ) đã kết thúc nghiên cứu dài kỳ, phát hiện thấy nho rất giàu chất chống ôxy hóa, có tác dụng cải thiện huyết áp tâm trương, giảm bệnh xơ, phì đại cơ tim và suy tim tăng huyết áp. Vì vậy, giới ẩm thực khuyến cáo, mọi người nên tăng cường nhóm thực phẩm này, nhất là những người có vấn đề về sức khoẻ tim mạch và nhóm người trung cao tuổi.
(Theo Herbsinfo, 1/2016)
DS. Trang Nhung

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

Trị cảm cúm với cây cóc mẳn

Theo Đông y, cóc mẳn vị cay, tính ấm, vào kinh thủ thái âm. Có tác dụng trừ phong, tán hàn, thắng thấp, thông mũi. Dùng chữa cảm mạo, hen suyễn, viêm họng, viêm amiđan, ho gà, kiết lị, lở loét ngoài da.
Cóc mẳn thuộc họ cúc, là loại cỏ mọc sát mặt đất. Hoa màu vàng nhạt, mọc ở nách lá. Khi vò ra có mùi hắc... Hằng năm có thể thu hái vào các tháng từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, khi cây ra hoa. Sau khi thu hái, người ta rửa sạch đất cát, phơi khô hoặc sấy khô, khi dùng có thể sao qua hoặc sao vàng.
Cây mọc hoang khắp nơi, thường hay gặp ở những nơi ẩm thấp, ruộng bỏ hoang, bờ rãnh, ven đường… Ngay cả trong các thành phố, chỗ những chân tường ẩm, khe gạch vỡ hở đất, cũng thường hay gặp cây này. Cây còn có nhiều tên khác như cúc ma, cỏ the, cây thuốc mộng, cây trăm chân, cỏ lưỡi rắn.
Theo Đông y, cóc mẳn vị cay, tính ấm, vào kinh thủ thái âm. Có tác dụng trừ phong, tán hàn, thắng thấp, thông mũi. Dùng chữa cảm mạo, hen suyễn, viêm họng, viêm amiđan, ho gà, kiết lị, lở loét ngoài da.
Cóc mẳn vị cay, tính ấm được dùng chữa bệnh cảm mạo, viêm đường hô hấp...
Một số đơn thuốc có dùng cây cóc mẳn:
Phòng trị cảm cúm: Cây cóc mẳn tươi 100g, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút rượu trắng, chia 2 lần uống trong ngày, uống ấm. Có tác dụng phong tán hàn (với các triệu chứng phát sốt, sợ lạnh, tắc mũi, mũi chảy nước, đau đầu, đau mình mẩy…).
Hoặc cóc mẳn phơi khô, tán thành bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g (trẻ nhỏ giảm nửa liều), chiêu bằng nước ấm. Có tác dụng phát tán phong hàn, kháng virut. Dùng chữa bệnh cúm mới phát, với những biểu hiện thuộc thể phong hàn.
Hỗ trợ điều trị viêm mũi dị ứng: Cây cóc mẳn (tươi hay khô đều được) vò nát, đưa vào sát lỗ mũi, hít vào sẽ hắt hơi, sau đó cảm thấy dễ thở và dễ chịu, mỗi ngày thực hiện từ 2 - 3 lần.
Trị ho khan, ho lâu ngày, ho có nhiều đờm kèm khó thở: Dùng dưới dạng cây tươi, rửa sạch, giã vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật ong cho dễ uống, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần dùng 8 - 10g. Người lớn liều dùng 20 - 40g tươi hoặc 16 - 30g khô, dưới dạng nước sắc. Có thể phối hợp thêm với các vị thuốc khác như lá hen 12g, bách bộ 10g, bạc hà 8g, trần bì 8g dưới dạng nước sắc để trị viêm phế quản cấp, mạn tính.
Khi bị cảm sốt có ho, dùng cóc mẳn, lá xương sông, râu ngô, mỗi thứ 40g, sắc uống 2 lần trong ngày.
Trị đau mắt đỏ hoặc do viêm kết mạc: Cóc mẳn 12g, bạc hà 12g, thảo quyết minh 8g, cúc hoa 4g. Cho thuốc vào nồi đun sôi nhỏ lửa 15 phút, rồi đem xông hơi một cách nhẹ nhàng vào mắt, sau đó để nguội và uống nước sắc này. Cũng có thể phối hợp với vỏ núc nác (hoàng bá nam), mỗi vị 40g, sắc uống ngày 1 thang, uống liền 1 - 2 tuần.
Giải độc khi bị mụn ngứa, lở loét: Lấy cây tươi, rửa sạch, để ráo nước, giã nát, rồi xát vào chỗ bị mụn ngứa. Có thể dùng cách này để trị các bệnh hắc lào, ngày làm nhiều lần. Trường hợp mụn ngứa, chảy nước vàng... nên dùng cóc mẳn khô, 30 - 40g, sắc nước, rửa vài lần trong ngày.
Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Cóc mẳn 20g, hạ khô thảo 10g, mẫu đơn bì 10g (đập vụn, sao qua), hoa hòe 6g (sao vàng), cỏ ngọt 8g. Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng chè, uống hàng ngày.
Ngoài ra, cóc mẳn tươi còn được giã nát, thêm ít rượu trắng hoặc giấm ăn, xào nóng, đắp, bó vào nơi bị sưng tấy, tụ máu do chấn thương, té ngã (vết thương kín) cũng có tác dụng giảm đau, tán huyết tốt.
Bác sĩ Thu Hương

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

Để không bị thiếu kẽm trong chế độ ăn hàng ngày

Thiếu kẽm đang là vấn đề phổ biến trong cộng đồng. Trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên rất dễ bị thiếu kẽm do nhu cầu tăng cao
Thiếu kẽm đang là vấn đề phổ biến trong cộng đồng. Trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên rất dễ bị thiếu kẽm do nhu cầu tăng cao. Phụ nữ mang thai và người cao tuổi cũng hay thiếu kẽm. Thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai làm giảm cân nặng và chiều cao trẻ sơ sinh.
>>>>ca gai leo
Tầm quan trọng của kẽm trong cơ thể
Kẽm được biết đến như một khoáng chất vi lượng cần thiết. Kẽm tham gia vào nhiều chuyển hóa glucid, protein và acid nucleic. Khi thiếu kẽm, tế bào sẽ chậm phân chia, ảnh hưởng trầm trọng đến sự tăng trưởng. Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung kẽm giúp cải thiện chiều cao đối với trẻ thấp lùn và tăng cân nhanh ở trẻ suy dinh dưỡng.
Chất kẽm giúp tăng hấp thu, tổng hợp chất đạm, phân chia tế bào, tăng cảm giác ngon miệng nên rất quan trọng đối với trẻ em. Kẽm giúp cơ thể chống chọi với bệnh tật do thúc đẩy các tế bào miễn dịch hoạt động hiệu quả hơn, làm lành vết thương. Việc thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và chức năng của hầu hết các tế bào miễn dịch, khiến cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, tăng nguy cơ tiêu chảy cấp, viêm đường hô hấp, sốt rét...

Hạt điều là thực phẩm bổ sung nhiều kẽm.
Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần hoạt động của hormon sinh dục nam testosterone. Bên cạnh đó kẽm sẽ giúp chúng ta ăn ngon miệng hơn. Thiếu nó, sự chuyển hóa của các tế bào vị giác bị ảnh hưởng, gây biếng ăn do rối loạn vị giác. Không chỉ có tác dụng với thể chất, tình trạng thiếu kẽm còn ảnh hưởng xấu đến tinh thần, nó khiến bạn dễ nổi cáu. Nguyên nhân là kẽm giúp vận chuyển canxi vào não, mà canxi lại đứng đầu trong danh sách các chất giúp ổn định thần kinh.
Làm thế nào để cung cấp đủ chất kẽm?
Kẽm có nhiều trong các loại thực phẩm nguồn gốc động vật như trai, ngao, sò, hàu; khá nhiều trong thịt nạc đỏ (heo, bò, cừu), sữa, trứng, ngũ cốc thô, hạt bí ngô, hạt điều và các loại đậu (25-50mg/kg). Ngũ cốc qua sơ chế, gạo xát trắng, thịt mỡ chứa lượng kẽm vừa phải (10-25mg/kg). Cá, rau củ, rau lá xanh và trái cây cũng chứa kẽm nhưng ít.
Thực phẩm có nguồn gốc thực vật thường chứa ít kẽm và có giá trị sinh học thấp do khó được hấp thu.
Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3mg/l), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/l. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4mg/ngày. Do đó, người mẹ cần ăn nhiều thực phẩm giàu kẽm để có đủ cho cả hai mẹ con.

Canh ngao chua vừa thơm ngon vừa cung cấp nhiều kẽm cho cơ thể.
Ở tuổi dậy thì, do cơ thể tăng trưởng nhanh nên nhu cầu kẽm tăng vọt, khoảng 0,5mg/ngày.
Đàn ông ở tuổi trưởng thành cũng là đối tượng rất cần cung cấp kẽm, bởi lẽ kẽm rất quan trọng trong việc sản xuất tinh dịch. Tới 5mg kẽm bị mất đi trong quá trình xuất tinh. Thiếu hụt kẽm ở đàn ông có thể dẫn tới giảm lượng tinh trùng và tần xuất tình dục. Sự xuất tinh thường xuyên có thể dẫn tới thiếu hụt kẽm. Mất đi một lượng nhỏ kẽm có thể làm đàn ông sụt cân, giảm khả năng tình dục và có thể mắc bệnh vô sinh.
Tuy nhiên, không phải bạn ăn vào 1mg kẽm thì cả 1mg đó sẽ được hấp thụ. Sự giảm bài tiết dịch vị ở dạ dày, thức ăn nhiều sắt vô cơ, phytate có thể làm giảm hấp thu kẽm. Phytate có nhiều trong ngũ cốc thô, đậu nành và các thực phẩm giàu chất xơ. Tuy nhiên, bạn đừng vội hạn chế thực phẩm giàu phytate vì chúng rất cần cho sức khỏe. Hãy ăn đủ chất đạm từ động vật vì chúng sẽ hạn chế nhược điểm trên của thức ăn giàu phytate. Ngoài ra, để tăng hấp thu kẽm, hãy bổ sung vitamin C.
BS. Nguyễn Thị Minh Hạnh

Bệnh ở đường tiêu hóa có di truyền không?

Nhiều gia đình rất cẩn thận trong ăn uống, ăn chín uống sôi, nhưng thường bị ăn khó tiêu, liệu có phải bệnh đường tiêu hóa di truyền không?
Một điều cần phải lưu ý là trong bất kỳ bệnh nào, khi trong một gia đình có nhiều người mắc phải thì chúng ta trước hết cần phải xem lại cách sinh hoạt, lối sống và ăn uống có thể ảnh hưởng cho tất cả thành viên trong gia đình, sau đó là đến yếu tố di truyền.
Với sự phát triển của y học, một số bệnh ở đương tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa như chứng khó tiêu, hội chứng ruột kích thích điều có liên quan đến các yếu tố di truyền. Bên cạnh đó, tình trạng nhiễm HP có thể xảy ra trong một gia đình do lây lan qua đường ăn uống và sinh hoạt chung.
Trường hợp trong một gia đình thường bị chứng khó tiêu thì thật khó có thể kết luận là có liên quan tới di truyền hay không. Nhưng có khả năng là do có cơ địa dị ứng với một số loại protein có trong động vật và một số loại men vi sinh. Ngoài ra, khi gặp trường hợp này, cần xem xét lại chế độ ăn uống và sinh hoạt của cả gia đình, ví nó cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng khó tiêu.
Một yếu tố đáng lưu tâm đó là tình trạng nhiễm trùng, nhất là nhiễm vi khuẩn HP vì vi khuẩn này lây theo đường ăn uống. Còn vấn đề di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chưa có bằng chứng khoa học chứng minh rõ rệt nhưng đã có những bằng chứng những người bị chứng rối loạn tiêu hóa chức năng gây đầy bụng không tiêu thường cũng có người trong gia đình mắc bệnh tương tự.

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Rau tự trồng có sạch như bạn nghĩ?

Với tình trạng lạm dụng hóa chất trong việc trồng rau, rất nhiều người đã áp dụng mô hình rau tự trồng trong nhà để dùng, nhưng rau này có thật sự là rau sạch?
Tận dụng bãi đất trống, hay thậm chí là tự chế làm nồi đất để trồng rau ngày trong nhà để phục vụ cho bữa ăn gia đình là cách làm tốt nhằm tránh thực phẩm độc hại tràn lan trên thị trường hiện nay.
Tuy nhiên, liệu việc trồng rau tự cung tự cấp như vậy có thật sự an toàn? Rau tự trồng hoàn toàn có thể là loại rau an toàn nếu chúng ta đảm bảo tốt mọi khâu từ hạt giống, đất trồng, nước tưới, môi trường sống. Nếu rau được trồng ở những chỗ đất bẩn, không được tầm soát, nguy cơ nhiễm bẩn rất lớn.
Nếu tưới rau bằng nguồn nước nhiễm bẩn, ô nhiễm có thể mang theo các chất như lưu huỳnh, chì, thủy ngân… qua rễ lên thân rau sau khi tưới. Ngoài ra, nguồn nước bẩn còn là môi trường thuận lợi để các loại trứng giun, sán phát triển và ký sinh trong rau. Các vi sinh vật, giun sán có thể bị tiêu diệt khi chúng ta đun nấu rau. Do đó, đây không phải là vấn đề đáng lo ngại. Điều cần chú ý hơn cả là việc nguồn đất không an toàn.
Hiện nay nhiều người vẫn thường mang cả bao tải ra những bãi đất trống lấy đất về trồng rau hoặc trồng ngay tại những bãi đất trống đó, nhất là các khu vực vỉa hè, đường giao thông…
Làm như vậy rau dễ nhiễm độc bởi các lớp bụi khói, khí thải từ phương tiện giao thông. Ngoài ra trồng trên mảnh đất công cộng chắc chắn sẽ có các loại rác thải, chất thải từ người qua đường. Điều đó có nghĩa, rau tự trồng có thể chứa rất nhiều vi sinh vật và kim loại nặng.
Do đó để trồng rau sạch thật sự  nên chọn đất chuyên canh trồng rau, được cải tạo liên tục, không nên trồng ở vỉa hè, ven đường có nhiều phương tiện đi lại và tưới rau bằng nguồn nước sạch.

Thực phẩm chay chế biến sẵn tìm ẩn nhiều nguy hại

Ăn chay đang dần trở thành một nét văn hóa ẩm thực của người Việt, người dùng nên lựa chọn kỹ trong việc chọn các thực phẩm chay chế biến sẵn
Hiện nay những thực phẩm chay nhưng lại được chế biến sẵn rất giống món ăn mặn cả về hình thức và hương vị. Chúng có an toàn không?
Có thể nói bạn có thể dễ dàng mua các loại thực phẩm chay chế biến sẵn tại các chợ, nhất là ở gần đền chùa. Với những tên gọi như như giò, chả quế, cá kèo, thịt cục hambogo, mực ống chay, bò hầm, gà… Những thực phẩm này đều làm từ các nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật như tàu hũ ky, bột mì, đậu xanh…
Giá của các loại thực phẩm này thường không cao. Điều đáng nói ở đây là mức độ an toàn của các loại thực phẩm này. Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng thực phẩm chay là an toàn tuyệt đối, vì nó có nguồn gốc từ thực vật. Thực tế thì không hẳn như vậy, các cơ quan chức năng cũng đã phát hiện nhiều bê bối liên quan đến đồ ăn chay.
Mới đây chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm TPHCM từng công bố một kết quả khiến những người ăn chay trường phải giật mình: Hàm lượng acid oxalic, chất gây sỏi thận có trong thực phẩm chay khá cao. Kết quả được đưa ra sau khi kiểm tra 4 mẫu mì thường được dùng trong các mẫu đồ ăn chay như hủ tiếu khô, mì sợi khô, mì căn.
Ở nước ta hiện nay đang có trào lưu “ăn chay giả mặn”. Có nghĩa là thực phẩm chay nhưng lại chế biến và gọi giống như thực phẩm mặn. Ăn chay để thanh lọc cơ thể hoặc theo tôn giáo nào đó. Nhưng món chay giả mặn chỉ đáp ứng nhu cầu ăn kiêng còn lại chưa đáp ứng được yêu cầu của người ăn chay.
Vì người ăn chay là phải ăn theo chế độ dinh dưỡng thuần khiết tự nhiên nhất mà thực phẩm chay giả mặn lúc này đã được bổ sung thêm vào nhiều chất khác vào có thể rất độc hại như chất bảo quản, chất tạo mùi cho giống thật, tạo vị, chất định hình… không rõ nguồn gốc, thậm chí ngay cả những nhà sản xuất cũng không biết được tác hại của nó.
Do vậy nếu ăn trong một thời gian dài và ăn liên tục hàng tháng thì không những đã không thanh lọc được cơ thể mà trái lại đang tự đầu độc cơ thể bởi những tác nhân xấu và sẽ gây ra một số bệnh về sau này.
Thông thường, thực phẩm chay chủ yếu làm từ đậu nành, rau củ quả. Tuy nhiên, để bảo đảm độ dai, bảo quản được lâu và có mùi cũng như hình thù giống với các loại thực phẩm mặn, các nhà sản xuất, chế biến phải cho thêm hóa chất tạo mùi, mầu, chất định hình, phụ gia và chất chống ẩm mốc vào các thành phẩm…

Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Một số tác hại của thói quen ăn quá nó

Ăn quá no đặc biệt là trong bữa tối gây áp lực cho dạ dày, đường ruột, và một số tác hại khó lường khác. Một số tác hại của thói quen ăn quá no
Dưới đây là những tác hại chính của việc ăn quá no:
Có thể làm giảm ham muốn tình dục. Cái bụng “quá to” có vẻ khiến bạn vướng víu trong cuộc “yêu”. Ngoài ra, khi ăn no, một lượng máu lớn sẽ tập trung về các cơ quan tiêu hóa như dạ dày, ruột và như vậy “chỗ cần” máu nhiều nhất lại bị thiếu hụt.
vi sao khong nen an qua no
Chuyên gia ở Mỹ cho biết ăn tối quá nó sẽ làm cho quá trình tiết testosterone ở nam giới bị ức chế và họ chẳng thiết tha gì đến chuyện chăn gối.
Dễ bị ho đêm. Trước khi chúng ta chìm vào giấc ngủ, dạ dày vẫn tích cực hoạt động sẽ khiến cuống trên của bao tử co thắt, axit dạ dày dễ dàng thoát ngược trở lại thực quản. Đó cũng là nguyên nhân của chứng ợ nóng trong khi ngủ. Hiện tượng này cũng có thể khiến một số người đột ngột thức giấc giữa đêm vì những cơn ho, lâu ngày có thể gây viêm thực quản và hen suyễn.
Dễ làm hỏng dạ dày. Bữa tối căng đầy, thức ăn chưa tiêu hóa hết, giấc ngủ đã tìm đến. Lượng thực phẩm chưa kịp tiêu hóa sẽ bị vi khuẩn phân hủy thành độc tố làm hỏng dạ dày, tá tràng. Lượng thức ăn bị biến chất do không được tiêu hóa cũng kích thích lên thành ruột gây sưng phồng và suy giảm chức năng ruột.
Nguy cơ tim mạch. Khi ngủ mọi cơ quan gần như nghỉ ngơi, máu lưu thông chậm lại, ăn no làm mỡ trong máu tăng lên, dễ tích lắng ở thành huyết quản ảnh hưởng đến tính đàn hồi của mạch máu, dẫn tới xơ cứng động mạch.
Người Nhật có thói quen ăn no chỉ khoảng 80% nhu cầu, đây được coi là một thói quen tốt bạn nên học hỏi.